CÚM MÙA: KHÔNG CHỦ QUAN, CHỦ ĐỘNG PHÒNG BỆNH

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi BSNT. BSCK1. Huỳnh Phạm Nhật; Khoa Truyền Nhiễm, BVQY175.

Cúm mùa là một bệnh nhiễm trùng hô hấp cấp tính do vi rút cúm gây sốt, sổ mũi, ho, đau đầu và mệt mỏi. Bệnh xảy ra hàng năm, thường vào mùa đông, xuân. Bệnh lây nhiễm trực tiếp từ người bệnh sang người lành thông qua các giọt bắn nhỏ khi nói chuyện, ho, hắt hơi. Các vụ dịch cúm gần như được ghi nhận hàng năm, mặc dù mức độ lan rộng và độ nguy hiểm của chúng thay đổi. Vi rút cúm B gây những đợt bùng phát nói chung ít lan rộng và nhẹ hơn so với bệnh do vi rút cúm A gây ra. Tại Việt Nam các vi rút gây bệnh cúm mùa thường gặp là cúm A/H3N2, A/H1N1 và cúm B.

Bệnh cúm nguy hiểm là do tính lây lan nhanh và gây thành dịch. Bệnh có thể xảy ra dưới nhiều mức độ khác nhau: đại dịch, dịch, dịch nhỏ địa phương và các trường hợp tản phát. Bệnh cúm tiến triển thường lành tính, nhưng cũng có thể biến chứng nặng và nguy hiểm hơn ở những bệnh nhân có nguy cơ cao (ví dụ: những người sống trong các cơ sở chăm sóc như nhà dưỡng lão, người già >65 tuổi, trẻ em <5 tuổi, suy tim hoặc đang mang thai). Bệnh có thể gây viêm phổi nặng, suy đa tạng.

  1. TÁC NHÂN GÂY BỆNH

Tác nhân gây bệnh là vi rút cúm Influenza được mô tả có khả năng gây những vụ dịch với bênh lý cấp tính đường hô hấp. Vi rút cúm thuộc họ Orthomyxoviridae, gồm ba type A, B, C giống nhau về hình dạng nhưng nhưng khác nhau ở các kháng nguyên chủ yếu và không gây miễn dịch chéo.

Vi rút được phát hiện trong 24 giờ trước khi bệnh nhân có các triệu chứng đầu tiên, nhanh chóng gia tăng đến đỉnh cao và đạt số lượng rất lớn trong 24 đến 48 giờ rồi giảm nhanh chóng sau đó.

Vi rút cúm A và B gây bệnh chủ yếu cho người. Riêng vi rút cúm A được đề cập nhiều hơn do thường gây các vụ dịch lớn, vi rút này dễ biến đổi kháng nguyên và gây xuất hiện nhiều chủng mới trong quá trình diễn tiến của các vụ dịch. Dịch cúm A thường bắt đầu đột ngột, đạt đỉnh điểm trong khoảng thời gian từ hai đến ba tuần và kéo dài từ hai đến ba tháng. Trong hầu hết các mùa nhiễm cúm, dấu hiệu sớm nhất của bệnh cúm thường xảy ra ở trẻ em.

Vi rút cúm B, C thường gây bệnh lẻ tẻ ở người trẻ và trẻ em hoặc những vụ dịch nhỏ khu trú trong các tập thể giới hạn (như trường học, trại binh lính) với chu kỳ gây dịch là 4 đến 6 năm. Đa số người lớn có kháng thể với loại vi rút cúm này.

Các triệu chứng của cúm thường xuất hiện đột ngột. 

  1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC

Mô hình hoạt động của bệnh cúm khác nhau tùy theo vùng địa lý. Tại khu vực khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới như Việt Nam, hoạt động của cúm có thể xảy ra quanh năm, thường đạt đỉnh điểm trong những tháng lạnh hơn hoặc mùa mưa.

Vi rút cúm lây qua các chất bài tiết đường hô hấp khi ho hoặc hắt hơi, sổ mũi. Tuy nhiên cũng có thể có những đường lây khác như tiếp xúc gần gũi “tay chạm tay” hoặc gián tiếp qua trung gian vác các vật dùng chung như khăn lau, tiền bạc, đồ chơi….

  1. BIỂU HIỆN CỦA BỆNH CÚM MÙA

Theo Tổ chức Y tế Thế giới  Các triệu chứng của bệnh cúm thường bắt đầu khoảng 2 ngày sau khi bị nhiễm vi rút. Triệu chứng bao gồm:

– Sốt: khởi phát đột ngột

– Ho: thường là ho khan

– Nhức đầu

– Đau cơ, khớp

– Cảm giác khó chịu

– Đau họng

– Sổ mũi

Ho có thể ho nhiều và kéo dài từ 2 tuần trở lên.

Hầu hết các bệnh nhân hồi phục, hết sốt và giảm các triệu chứng khác trong vòng một tuần mà không cần chăm sóc y tế. Tuy nhiên, cúm có thể trở nên nặng hơn như dẫn đến viêm phổi hoặc bội nhiễm vi trùng, nhiễm trùng huyết hoặc tử vong, đặc biệt là những bệnh nhân có nguy cơ cao.

Đeo khẩu trang tại nơi tập trung đông người là 1 trong những cách phòng chống bệnh cúm mùa

  1. CHẨN ĐOÁN BỆNH CÚM MÙA

Hầu hết các trường hợp cúm được chẩn đoán bởi các biểu hiện lâm sàng. Tuy nhiên, trong thời kỳ không có dịch cúm, sự lây nhiễm của các vi rút đường hô hấp khác (ví dụ: SARS-CoV-2, rhinovirus, vi rút hợp bào hô hấp, parainfluenza và adenovirus) cũng có thể biểu hiện dưới dạng bệnh giống cúm, khiến việc phân biệt lâm sàng cúm với các bệnh khác trở nên khó khăn.

Cần thu thập các mẫu bệnh phẩm đường hô hấp thích hợp và áp dụng xét nghiệm để thiết lập chẩn đoán xác định. Các xét nghiệm thường được thực hiện bằng cách phát hiện kháng nguyên trực tiếp, phân lập vi rút hoặc phát hiện RNA đặc hiệu cúm bằng phản ứng chuỗi phiên mã ngược-polymerase (RT-PCR).

Các xét nghiệm chẩn đoán nhanh cũng được sử dụng nhưng chúng có độ nhạy thấp hơn so với các phương pháp RT-PCR và độ tin cậy phụ thuộc phần lớn vào điều kiện sử dụng.

  1. ĐIỀU TRỊ BỆNH CÚM MÙA

– Hầu hết bệnh nhân nhiễm cúm sẽ tự khỏi.

– Bệnh nhân nghi ngờ nhiễm cúm hoặc đã xác định nhiễm cúm phải được cách ly y tế và thông báo kịp thời cho cơ quan y tế dự phòng.

– Các trường hợp bệnh nặng hoặc có biến chứng nặng cần kết hợp các biện pháp hồi sức tích cực và điều trị căn nguyên.

– Thuốc kháng vi rút (Oseltamivir hoặc Zanamivir) được dùng càng sớm càng tốt khi có chỉ định: có biến chứng hoặc yếu tố nguy cơ nặng.

– Ưu tiên điều trị tại chỗ, nếu điều kiện cơ sở điều trị cho phép nên hạn chế chuyển tuyến.

Tiêm vắc xin cúm mùa phòng bệnh cúm là biện pháp phòng ngừa cúm hiệu quả nhất.

  1. PHÒNG NGỪA NHIỄM CÚM

Biện pháp phòng ngừa đơn giản là cần phát hiện và cách ly sớm các trường hợp nghi ngờ bệnh cúm khi đang có dịch để tránh làm bệnh lan truyền. Hạn chế sinh hoạt, tụ họp đông đúc trong thời gian dịch bùng phát.

Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh (HCDC), 5 biện pháp phòng, chống bệnh cúm mùa:

  • Che miệng và mũi khi họ hoặc hắt hơi, tốt nhất là che bằng khăn vải hoặc khăn tay hoặc khăn giấy dùng một lần hoặc ống tay áo để làm giảm phát tán các dịch tiết đường hô hấp.
  • Đeo khẩu trang tại nơi tập trung đông người, trên các phương tiện giao thông công cộng; thường xuyên rửa tay bằng xà phòng và nước sạch hoặc dung dịch sát khuẩn tay (nhất là sau khi ho, hắt hoei). Không khạc nhổ bừa bãi nơi công cộng.
  • Hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh cúm hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh khi không cần thiết.
  • Tiêm vắc xin cúm mùa phòng bệnh
  • Thực hiện lối sống lành mạnh; ăn thức ăn đủ chất dinh dưỡng để ngăn ngừa nhiễm vi rút cúm; tăng cường vận động thể lực, nâng cao sức khỏe..

      7. TIÊM VẮC XIN PHÒNG NGỪA CÚM

Mặc dù các biện pháp phòng ngừa không dùng thuốc như khẩu trang và tăng cường vệ sinh tay có thể có hiệu quả trong việc ngăn ngừa cúm lây lan ở quy mô nhỏ như hộ gia đình, công ty nhỏ, xí nghiệp, nhưng tiêm chủng mới là biện pháp phòng ngừa cúm hiệu quả nhất. Vắc xin phòng ngừa cúm có thành phần là vi rút cúm bất hoạt hoặc vi rút cúm sống giảm độc lực giúp tạo kháng thể kháng Hemagglutinin (HA).

Hiện tại Việt Nam lưu hành bốn loại vắc xin phòng ngừa cúm, tất cả đều chứa vi rút cúm bất hoạt:

– Tam giá: GC Flu, Ivacflu – S.

– Tứ giá: Vaxigrip, Influvac.

Phác đồ tiêm vắc xin:

– Tam giá:

  1. Vắc xin GC Flu được sử dụng cho trẻ em từ 36 tháng đến dưới 9 tuổi chưa được tiêm ngừa trước đó:
  •  Mũi 1: lần tiêm đầu tiên.
  •  Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 4 tuần và tiêm nhắc hàng năm.

Trẻ em trên 9 tuổi và người lớn chưa được tiêm ngừa trước đó: Tiêm 1 mũi và sau đó tiêm nhắc lại hằng năm.

  1. Vắc xin Ivacflu-S 0,5mllà loại vắc xin được sử dụng chon gười lớn (từ 18 tuổi đến 60 tuổi):
  • Tiêm 01 liều 0,5 ml và sau đó nhắc lại hằng năm.

– Tứ giá:

  1. Vắc xin Influvac sử dụng liều lượng 0,5 ml dành cho trẻ từ 6 tháng tuổi đến dưới 9 tuổi chưa tiêm cúm có lịch tiêm 2 mũi với lịch tiêm sau:
  •  Mũi 1: lần tiêm đầu tiên.
  •  Mũi 2: cách mũi 1 ít nhất 4 tuần và tiêm nhắc hàng năm.

Đối với trẻ em từ 9 tuổi trở lên, áp dụng lịch tiêm 01 mũi duy nhất và tiêm nhắc lại hằng năm.

  1. Vắc xin Vaxigrip sử dụng liều lượng 0,5 ml cho trẻ từ 6 tháng tuổi và người lớn với lịch tiêm được khuyến cáo như sau:
  • Trẻ từ 6 tháng đến dưới 9 tuổi chưa được tiêm ngừa trước đó: 2 mũi cách nhau tối thiểu 4 tuần. Sau đó tiêm nhắc lại 1 mũi hàng năm.
  • Trẻ từ 9 tuổi trở lên và người lớn chưa được tiêm ngừa trước đó: Tiêm 1 mũi và tiêm nhắc lại hàng năm.

Bệnh cúm thường diễn tiến lành tính và tự giới hạn, nhưng cũng có thể gây biến chứng nặng ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao. Bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng, tạo thành những vụ dịch lớn nhỏ, khi xuất hiện đại dịch vẫn ghi nhận tử vong ở những bệnh nhân khỏe mạnh. Bệnh cúm gây ra gánh nặng bệnh tật không nhỏ hàng năm. Vì vậy, phòng ngừa bệnh hiệu quả là vấn đề được đặt ra.

Hiện tại có nhiều phương pháp phòng ngừa bệnh cúm từ đơn giản đến phức tạp. Bên cạnh những biện pháp phòng ngừa chung của bệnh lây truyền qua đường hô hấp thì tiêm chủng được cho là biện pháp hiệu quả nhất. Vắc xin cúm được thay đổi mỗi năm dựa vào chủng vi rút cúm đang lưu hành, mọi người đều được khuyến cáo tiêm phòng cúm hàng năm, đặc biệt là những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao biến chứng nặng. Phòng ngừa tốt bệnh cúm giúp giảm tỉ lệ mắc bệnh từ đó giảm tỉ lệ biến chứng nặng và tử vong, nâng cao sức khỏe cộng đồng và tiết kiệm chi phí cho chăm sóc y tế.